Tác giả: Joel d. Lazaro
Trẻ chập chững biết đi có kỹ năng mạnh mẽ trong việc tạo ra các âm thanh của lời nói và có khả năng học hỏi, hiểu được những cấu trúc cơ bản của ngôn ngữ mà trẻ nghe được. Tuy nhiên, một số trẻ không có khả năng đó. Có một số nguyên nhân khả thi và lý do chính đó là: 1) bị mất thính giác, 2) chậm phát triển trí tuệ, 3) rối loạn phát triển ngôn ngữ (chứng câm tiếng) và 4) bệnh tự kỷ. Bạn hãy đọc tiếp để biết thêm chi tiết về:
1. Tổng quan về lộ trình lời nói/ngôn ngữ thông thường
2. Cột mốc quan trọng trong việc thu nhận ngôn ngữ thông thường
3. Các vấn đề đáng lưu tâm về lời nói và ngôn ngữ: khi nào thì nghiên cứu?
4. Đánh giá và quản lý một trẻ chập chững biết đi mắc chứng chậm nói
Lộ trình lới nói ngôn ngữ thông thường
Việc nhận thức, hiểu và tạo ra ngôn ngữ biểu hiện những hoạt động khác nhau trong khu vực ngôn ngữ của não bộ sẽ diễn ra theo tuần tự. Lộ trình ngôn ngữ bình thường (hình 1) bắt đầu bằng những âm từ nhận được qua hệ thống âm thanh. Việc giải mã hoặc nhận thức các âm thanh này theo các quy tắc âm vị học của ngôn ngữ riêng diễn ra trong cơ quan thính giác và các khu vực liên kết thính giác của thùy thái dương trong bán cầu não chi phối ngôn ngữ. Tiếp theo đó là việc hiểu và dịch giải thông điệp ngôn ngữ sẽ diễn ra bằng cách lựa chọn và tìm các từ ngữ trong các khu “chế tạo” ngôn ngữ của não bộ - được tạo bởi sự chuyển đổi suy nghĩ và ý định để hình thành nên các khái niệm. Việc xây dựng các khái niệm sau đó được lập trình thành những chuỗi âm vị truyền lệnh cho dây thần kinh vận động để tạo ra phản xạ nói.
Ngôn ngữ tiếp thu cũng quan trọng tương tự như ngôn ngữ truyền cảm - gọi là kỹ năng dễ tiếp thu ngôn ngữ. Trẻ sơ sinh phản ứng với sự kích thích phát âm bằng việc mở to mắt hoặc thay đổi tần số hô hấp hoặc mút. Vào 2-3 tháng tuổi, bé sẽ nhìn và lắng nghe chăm chú khi người lớn nói. Trước 4 tháng tuổi, bé sẽ quay đầu theo hướng phát ra giọng nói. Trước 7-8 tháng tuổi, bé sẽ chú ý tên riêng của mình khi người lớn gọi và 9 tháng tuổi bé có thể hiểu chữ “không”. Bé phản ứng theo từng bước hiệu lệnh kèm theo cử chỉ từ người lớn ví dụ như: 'lại đây' ở 1 năm tuổi và sẽ thực hiện mà không cần những điệu bộ diễn tả vào 15-18 tháng tuổi. Trước 2,5 tuổi đến 3 tuổi, bé sẽ chỉ ra các đối tượng được miêu tả bằng cách sử dụng, ví dụ như 'chỉ ra cái mà chúng ta mặc' và làm theo hiệu lệnh với những từ đơn giản, ví dụ như “đặt ly dưới bàn”.
Các điểm đáng lưu ý của các vấn đề lời nói và ngôn ngữ
Lộ trình cho việc tiếp nhận ngôn ngữ khác nhau rất nhiều ở mỗi trẻ em. Điều này gây khó khăn cho các bác sĩ để quyết định thời điểm nào trẻ vượt ra ngoài tiêu chuẩn thông thường, và vì lẽ đó, đòi hỏi cần phải có sự đánh giá chuyên môn. Ví dụ, một trẻ chập chững biết đi ngay từ đầu không nói, có thể đạt lộ trình ngôn ngữ chậm hơn tiêu chuẩn đặt ra (chậm nói), hoặc trong tình trạng bị xáo trộn hoặc bất ổn (rối loạn ngôn ngữ). Sự bất thường trong việc phát triển ngôn ngữ có thể là một phần của sự chậm phát triển chung (chậm phát triển toàn bộ), hoặc xảy ra riêng biệt, trong tình trạng thần kinh vận động bình thường hoặc chức năng nhận thức (tách biệt ngôn ngữ). Cuối cùng, một đứa trẻ đã nói được bình thường vào một thời gian nào đó trong quá khứ, nhưng không còn nói được nữa, đã bị mất khả năng nhận biết và đáp ứng bằng ngôn ngữ (thoái suy ngôn ngữ). Thẩm định những khả năng này được dựa trên cơ sở đánh giá một trẻ chập chững biết đi mắc bệnh chậm nói.
Tuy nhiên, những điều đáng lưu ý về vấn đề lời nói và ngôn ngữ sau đây sẽ là những chỉ số có ích để phục vụ cho việc tham khảo đối với các đánh giá của chuyên gia.
Vấn đề đáng lưu tâm
| 6 tháng |
- Không đảo mắt và xoay đầu đến phía phát ra âm thanh |
| 10 tháng |
- Chưa bi bô nói
- Không đáp lại khi được gọi tên |
| 15 tháng |
- Không hiểu và đáp lại với từ 'không” hay “tạm biệt” |
| 8 tháng |
- Không nói từ nào ngoài hai từ “bố/mẹ”
- Không chỉ ra những gì bé muốn |
| 2 tuổi |
- Không nói ra hai từ liền nhau để tạo thành cụm từ
- Không hiểu những gì được nói với bé mà không có cử chỉ hay biệt ngữ không thích hợp.
- Không chỉ ra các bộ phận cơ thể theo yêu cầu. |
| 3 tuổi |
- Không dùng được những câu đơn giản, hoặc không bắt đầu đặt câu hỏi. |
Lời nói bình thường và lộ trình ngôn ngữ
Ngôn ngữ bắt đầu phát triển khi bé được sinh ra. Nó bao gồm hệ thống biểu tượng dành cho việc lưu trữ và trao đổi thông tin. Nó được diễn tả trong thuật ngữ của ngôn ngữ dễ tiếp thu và khả năng biểu cảm của ngôn ngữ.
Ngôn ngữ biểu cảm
Trẻ sơ sinh phát ra một chuỗi đồng nhất các âm tiền ngôn ngữ không phụ thuộc vào ngôn ngữ mà bé tiếp xúc. Ban đầu cách phát âm này là nói thì thầm, nó thuộc về âm nhạc, là những âm thanh nguyên âm, xuất hiện ở 4-6 tuần tuổi. Một vài tháng sau đấy là những âm do hai môi nhập lại phát ra như thể đứa trẻ đang thổi bong bóng. Trước 5 tháng, bé đã cười được và xuất hiện một loạt các từ đơn tiết ví dụ: 'ba', 'ma', 'pa'. Từ 6 đến 8 tháng, bé bập bẹ những từ đa âm tiết trong đó bao gồm âm tiết lặp đi lặp lại: 'lalalalala', 'dadadadada' và những âm tương tự như thế. Trẻ sơ sinh 9-10 tháng tuổi sẽ tự động nói từ 'mami'/’mama” hay 'pa' để gán cho cha mẹ. Trước 12 tháng, bé đã đạt tới một hoặc hai từ khác ngoài mami/pa. Vốn từ vựng tăng nhanh hơn suốt năm thứ 2 bắt đầu bằng một từ mới mỗi tuần vào lúc 12 tháng tuổi và đạt tỷ lệ một hoặc nhiều từ mới mỗi ngày khi bé được 2 năm tuổi. Một trẻ chập chững biết đi điển hình 2 năm tuổi đã có một vốn từ vựng ít nhất 50 từ và phải được tạo thành từ 2 cụm từ. Quá trình phát triển vốn từ vựng tiếp tục đẩy nhanh tốc độ trong năm thứ 3, và cuối cùng đạt được tới mức một số từ mới mỗi ngày. Trẻ ở tuổi lên 3 sẽ có một vốn từ vựng nhiều, khó mà đếm được và phát triển thành những câu nói tạo bởi 3-5 từ có chứa một chủ ngữ và vị ngữ, nhưng thiếu liên từ, động từ hoặc các mạo từ. Ở thời điểm 4 tuổi, những đứa trẻ bình thường có thể nói được những câu đúng về mặt ngữ pháp.
Đánh giá và điều tiết chứng chậm nói của trẻ chập chững biết đi
Tiền sử bệnh và việc kiểm tra thể chất rất quan trọng bởi vì chúng có thể cung cấp thông tin liên quan đến sự rối loạn ở trẻ. Tiền sử bệnh cũng quan trọng, chủ yếu để làm rõ bản chất các triệu chứng ở bé. Bảng 1 cho thấy mối quan tâm của cha mẹ về các vấn đề ngôn ngữ tương ứng với tính chất của sự rối loạn ngôn ngữ.
Bảng 1 Chứng chậm nói: phân loại lâm sàng
Phân loại triệu chứng:
Trẻ rối loạn cách phát âm - khi cha mẹ tuyên bố “Tôi là người duy nhất hiểu được những gì bé nói”
Trẻ chậm nói những từ biểu cảm khi “Bé sẽ làm những gì tôi nói, nhưng khi bé muốn cái gì, bé chỉ biết đưa tay chỉ ra mà thôi”
Trẻ chậm nói toàn bộ khi “Bé không làm theo những gì tôi yêu cầu và từ duy nhất bé nói được là mama”
Trẻ rối loạn ngôn ngữ khi “Bé không bao giờ nói ra những âm thanh vui nhộn hay nói Mama và Chacha và bây giờ bé chỉ lặp lại tất cả những gì tôi nói '
Trẻ bị mất khả năng nhận biết và đáp ứng bằng ngôn ngữ hay thoái suy ngôn ngữ khi “Bé từng nói những từ như “Bô đi, bai-bai” nhưng bây giờ bé không nói gì cả”.
Kiểm tra thể chất phải tập trung vào kiểm tra hệ thần kinh và tìm kiếm các đặc trưng về rối loạn chức năng - có thể là đặc điểm của hội chứng di truyền liên quan với sự rối loạn ngôn ngữ. Khía cạnh bộc lộ rõ nhất của việc kiểm tra hệ thần kinh xuất phát từ tình trạng tâm thần, bao gồm kỹ năng biểu lộ và tiếp thu ngôn ngữ, cách chơi và hành vi ứng xử. Vì vậy, nên có một đánh giá phát triển toàn diện cho trẻ nhằm đánh giá xem trẻ chỉ mắc chứng rối loạn ngôn ngữ biệt lập hay đó là một phần của sự phát triển chậm toàn diện.
Xét nghiệm chỉ định cho một trẻ chập chững biết đi mắc chứng chậm nói bao gồm các bài kiểm tra để đánh giá độ nhạy thính. Ngay cả trẻ rất nhỏ hoặc bị khuyết tật nặng cũng có thể được tiến hành đánh giá về khả năng nghe. Trẻ được tổ chức thành nhóm có thể được kiểm tra bằng cách sử dụng các phương pháp tăng cường hành vi cư xử như đo sức nghe, những trẻ khác có thể trải qua đợt kiểm tra điện sinh lý học bằng cách sử dụng phản ứng thính giác Brainstem (BAER). Máy ghi điện não nên được dùng trong trường hợp một đứa trẻ có hình ảnh lâm sàng cho thấy mất hoặc suy thoái các kỹ năng ngôn ngữ. Sử dụng điện não đồ EEG ghi lại các hoạt động điện sinh lý của não để chẩn đoán các loại rối loạn giấc ngủ, chứng bệnh như động kinh - để loại ra chứng mất ngôn ngữ thuộc dạng động kinh hoặc hội chứng Landau-Kleffner (là bệnh tuổi thơ, xảy ra ở trẻ em mạnh khỏe phát triển bình thường về cử động và ngôn ngữ; em biết nói và nói được ít nhiều rồi tự nhiên mất đi khả năng này đột ngột hay từ từ, có khi mất cả hai khả năng nghe hiểu ngôn ngữ và nói (hay ngôn ngữ biểu lộ là nói và ngôn ngữ tiếp nhận là hiểu lời nói và làm theo yêu cầu), đi cùng lúc với việc bị động kinh và não điện đồ (EEG) thay đổi). Bác sĩ lâm sàng có thể lựa chọn cách xác nhận đánh giá lâm sàng của họ bằng cách sử dụng bảng liệt kê ngôn ngữ, chẳng hạn như lộ trình ngôn ngữ ban đầu (ELM) hoặc Quy mô lộ trình thính giác và ngôn ngữ lâm sàng (CLAMS) giúp quyết định xem ngôn ngữ phát triển bình thường hay không. Nếu đòi hỏi sự đánh giá chi tiết và / hoặc định lượng cho chứng rối loại ngôn ngữ của trẻ, bác sĩ nên gặp các nhà nghiên cứu bệnh học về ngôn ngữ để được tư vấn. Đối với trường hợp này, nên sử dụng phương pháp thử nghiệm thần kinh – tâm lý (neuropsychological testing).
Chìa khóa để điều tiết thành công chứng chậm nói của trẻ chập chững biết đi phụ thuộc vào việc chẩn đoán chính xác về phát triển tâm thần. Nguyên nhân đặc trưng của chứng chậm nói đòi hỏi phải có phương pháp can thiệp riêng. Chữa trị chứng chậm nói của một đứa trẻ đòi hỏi những kỷ luật và nỗ lực phối hợp để đạt được hiệu quả tối đa. Việc can thiệp nhằm mục đích chính là cung cấp cho trẻ các phương tiện để giao tiếp hiệu quả thông qua bất cứ kênh nào thích hợp ở đúng thời điểm. Sớm xác định và can thiệp thích đáng sẽ giúp phát triển tối đa tiềm năng của bé trong cuộc sống.
Tài liệu tham khảo
Coplan, J. 1995. Normal Speech and Language Development: An Overview Pediatrics in Review, Vol. 16 No. 3
Coplan, J. 1989. ELM Scale: the Early Language Milestone Scale. Austin, TX: Pro-Ed
Capute, A. 1986. Clinical Linguistic and Auditory Milestone Scale. Dev. Med. And Child Neurology, Vol. 28, 762-771